Tìm kiếm tin tức

 

Trần Nhân Tông với cuộc đất Thuận Hóa
Ngày cập nhật 19/12/2017

Hầu như là người Việt Nam ai cũng biết rằng: Trần Nhân Tông là một minh quân, người anh hùng dân tộc, nhà quân sự, chính trị, ngoại giao xuất sắc, người đã trực tiếp cầm quân ra trận và lãnh đạo nhân dân Đại Việt đánh thắng hai cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Nguyên Mông hung hãn nhất thế giới ở vào cuối thế kỷ XIII.

Với những nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa, hay những người yêu sử nước nhà, và cả những tín đồ Phật giáo nữa thì hẳn nhiên họ còn rõ thêm: Ngài là bậc hùng tâm, hùng trí, đại lực, đại giác, là vị thiền sư vượt trên mọi thiền sư cùng thời, là người nối pháp làm Tổ thứ sáu của thiền phái Yên Tử, là vị chân tu sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm - một dòng Thiền nhập thế mang đặc trưng bản sắc văn hóa Đại Việt; một vị Tổ Phật của Thiền tông Việt Nam, nhà văn hóa lớn thời đại nhà Trần và chắc chắn sẽ thị hiện mãi về sau.
Còn riêng đối với cư dân xứ Thuận Hóa xưa - nay đa phần hậu duệ của họ đang sinh sống ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, và cả những người ở tận cùng đất mũi Cà Mau… thì vua Trần Nhân Tông còn là vị Thượng thần hộ quốc, là người chủ đạo và trực tiếp khai mở ra mảnh đất Ô Mã, Việt Lý nằm trong chiến lược “nhìn xa bờ cõi, trông rộng giang sơn ngàn năm sau cho con cháu”…
Là hậu duệ của những dân binh thuở xưa theo lệnh các vua Trần, rời cố thổ sông Hồng, sông Mã, vào đây khai sơn lập ấp, bảy trăm năm sau ngoái lại mảnh đất vốn là “Ô châu ác địa” này, tôi muốn góp một cái nhìn lạc quan với vạn lần tri ân vị vua anh hùng dân tộc, nhà hoạch định chiến lược tiêu biểu trong lịch sử chống ngoại xâm giữ nước và mở nước - Phật hoàng Trần Nhân Tông đối với mảnh đất phên dậu Thuận Hóa.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, tháng 3 năm Mậu Tý, 1288, sau cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ ba thắng lợi, vua tôi nhà Trần dẫn theo đám tù binh về phủ Long Hưng (Thái Bình) làm lễ báo công dâng lên tiên tổ. Trong buổi lễ trước Chiêu Lăng, vua Trần Nhân Tông đã xuất thần hai câu thơ bất hủ: “Xã tắc hai phen chồn ngựa đá/ Non sông nghìn thuở âu vàng”, rồi toàn quân trở lại Kinh đô trong sự reo mừng của nhân dân trăm họ. Từ đây, một ngày mới với bao công việc trị quốc đang trông chờ ở người lãnh đạo tài năng thông tuệ - vị vua anh hùng Trần Nhân Tông.
Để khuyến khích quân dân, củng cố nội trị, giữ vững nền độc lập, Trần Nhân Tông cùng lúc đã cho thực thi nhiều chủ trương: trước hết đại xá thiên hạ trong cả nước, rồi tha thuế tạp dịch cho những nơi trải qua chiến tranh; thăng chức hàm, ban bổng lộc, cấp ruộng đất cho những quan lại tướng sĩ có huân công chống giặc; phong thần, lập miếu thờ cho những người đã hy sinh oanh liệt trong chiến đấu. Một mặt vẫn phải luôn cảnh giác, không quên đối phó với âm mưu xâm lược của triều đình Nguyên Mông.
Tuy vậy, bằng hành động trị quốc của người anh hùng, với nhiều năm cầm quân, học đạo, tu thiền; lúc này ta thấy ở Trần Nhân Tông sáng lên một tấm lòng khoan dung độ lượng, không màng phú quí, danh lợi, chức quyền, không thỏa mãn với vinh quang trong chiến thắng, Ngài “coi ngai vàng như chiếc dày rách”; và muốn rủ bỏ tất cả để về chốn sơn lâm tu Phật.
Vậy là sau 5 năm sắp đặt việc nước tạm yên, ngày Chín tháng Ba năm Quí Tỵ, 1293, nhà vua quyết định nhường ngôi cho con là Thái tử Thuyên trực tiếp điều hành chính sự, Ngài lui về phủ Thiên Trường (Nam Định) làm Thái Thượng hoàng, lúc này mới 35 tuổi. Theo truyền thống, Thượng hoàng về đây hưởng nhàn, đứng ngoài quan sát ông vua con trị quốc, rỗi rãi soạn sách, làm thơ, sớm tối nghiên cứu Phật học.
Trên thực tế, Trần Nhân Tông đã về phủ Thiên Trường hưởng nhàn, nhưng ta vẫn thấy Ngài luôn canh cánh việc nước. Nên thường mượn cớ “nhẹ đai thõng áo” vân du đây đó để quan sát dân tình, mong tìm được nhiều phương sách xây dựng đất nước. Và bấy giờ, mặc dù Ngài biết vua Nguyên Hốt Tất Liệt đã chết, nội bộ Trung Nguyên rối ren, chúng chưa thể lại tấn công sang Đại Việt ngay được. Nhưng mối lo thường xuyên và lớn nhất của Ngài là kẻ thù phương Bắc chưa từ bỏ âm mưu xâm lược. Lúc tại vị cũng như khi lên làm Thái Thượng hoàng, Ngài đã gửi rất nhiều thư với lời lẽ nhún nhường, cử nhiều đoàn ngoại giao, kể cả việc đúc người bằng vàng thế mạng để triều cống sang nhà Nguyên, tìm kế thoái thác, hoãn binh, do la tình hình. Một mặt, Ngài khẩn trương tổ chức bộ máy, củng cố nội trị, tìm miền đất mới làm căn cứ phòng thủ.
Tháng Bảy năm Giáp Ngọ, 1294, từ phủ Thiên Trường, Ngài đi chơi cung Vũ Lâm, vốn là chiến khu thời chống Nguyên Mông và cũng là chốn trước đây ông nội và vua cha của Ngài từng lui tới tu Phật; Vũ Lâm chỉ cách Thiên Trường vài chục dặm. Thấy cảnh đẹp hùng vĩ của sông núi Vũ Lâm, Trần Nhân Tông tính chuyện xuất gia. Nhưng khi nghe tin giặc Ai Lao xâm lấn Nghệ An, Ngài liền bỏ cuộc du ngoạn, trực tiếp làm tướng, thống lĩnh đại quân đi đánh dẹp. Gần một năm chiến trận, toàn thắng quân Ai Lao, mùa hạ năm Ất Mùi, 1295, từ biên ải, Ngài trở về Thăng Long, sai ban thưởng tướng sĩ, cất gươm đao, phủi bụi chiến bào, rồi Ngài thả bộ về Thiên Trường chăm lo học Phật…
Trải mấy mùa kiết hạ, thấm nhuần sâu hơn về giáo lý Thiền tông. Tháng Tám năm Kỷ Hợi, 1299, lúc vừa 41 tuổi, Ngài quyết định cởi bỏ chiếc áo quyền lực, từ phủ Thiên Trường, xuất gia vào ở hẳn trên núi Yên Tử, tinh cần tu 12 hạnh Đầu đà, lấy hiệu Hương Vân Đầu Đà, sau đổi là Trúc Lâm Đầu Đà. Ngài lập ra Chi đề Tịnh xá, giảng pháp độ Tăng, làm nhiều thơ văn có ý nghĩa giáo lý nhà Phật. Từ đây một dòng Thiền mới mang đậm bản sắc văn hóa Đại Việt do Ngài sáng lập ra đời.
Sự nghiệp giữ nước và mở nước của vua Trần Nhân Tông –  Anh hùng dân tộc, người khai sáng phái Thiền Trúc Lâm thật là vĩ đại, không sách vở nào nói hết. Bởi vậy, nội dung chính của bài này chỉ dám mon men tìm về một giai đoạn ngắn khi Ngài hoằng hóa phía Nam, mở ra hai châu Ô, Lý mà thôi.
Sử cho biết rằng, tháng Tám năm Kỷ Hợi, 1299, Thượng hoàng Nhân Tông rũ hết bụi trần lên núi Yên Tử lập am tu Phật, trở thành vị Sơn Tăng: “Mặc áo cà sa nằm trướng giấy/ Màng chi châu đầy lẫm, ngọc đầy rương”. Thỉnh thoảng Ngài lại xuống núi, cùng đệ tử đi đến các vùng miền trong nước. Sách Tam Tổ thực lục, trang 3a dòng 4-5 phần chữ Hán cho biết: “Trải mấy năm, Điều Ngự lại vân du đây đó, đến trại Bố Chánh lập am Tri Kiến để cư trú”; 氫數年, 乃雲遊方外, 至布政寨, 立知見庵以居 (Kinh số niên, nải vân du phương ngoại, chí Bố Chính trại, lập Tri Kiến am dĩ cư). Còn Ô Châu cận lục, bản ký hiệu A.263, trang 45a dòng 5 thì chép rằng: “Tri Kiến là nơi đóng huyện Kiến xưa”: 知見古之 縣 建 (Tri Kiến cổ chi huyện Kiến). Ở huyện Tri Kiến thời ấy còn có một giáp (hay thôn) cùng tên chữ Tri Kiến. Năm 1553, khi nhuận sắc Ô Châu cận lục, Tiến sĩ Dương Văn An làm quan Thượng thư nhà Mạc, quê ở huyện Tri Kiến cổ, đã nhận xét rằng: Tri Kiến đa sương phụ (Tri Kiến lắm đàn bà góa). Còn các bản dịch khác về Ô Châu cận lục hiện đang lưu hành thì đã bỏ qua hoặc có dịch về chữ kiến (見 nghĩa là thấy) lại nhầm thành chữ kiến (建 dựng, lập), hoặc ngược lại; nơi mà trên đường hoằng hóa Nhân Tông đã dừng lại ở trại Bố Chính lập am Tri Kiến (tại huyện Tri Kiến) để cư trú, rồi mới vân du qua Chiêm Thành. Ở đây ta thấy, Tri Kiến am (知見庵) khác nghĩa với Tri Kiến huyện (知建縣) nhưng đồng âm, do vậy mà dân gian rất dễ nhầm. Còn trại (ở đây chỉ trại Bố Chính) được hiểu là đơn vị hành chính miền núi, phên dậu chưa khai hóa bằng những nơi khác như phủ lộ. Thời Lý, Trần, trại Bố Chính bao trùm lên mấy huyện. Toàn thư cho biết: năm 1256, vua Trần Thái Tông mở khoa thi chọn học trò, lấy đỗ Kinh Trạng nguyên và Trại Trạng nguyên. Trương Xán người Hoành Bồ (Các nhà khoa bảng Việt Nam chú rằng, Trương Xán người xã Hoành Bồ, Hoành Sơn, sau đổi làm châu Bố Chính, nay thuộc huyện Quảng Trạch, Quảng Bình) đỗ Trại Trạng nguyên. Lúc bấy giờ, những vùng đất ngoài tứ trấn, miền Thanh - Nghệ còn gọi là Trại. Đến tháng Ba năm Bính Dần, 1266, triều đình lại mở khoa thi, ban đỗ Kinh Trạng nguyên Trần Cố, Trại Trạng nguyên Bạch Liêu, Bạch Liêu là người Nghệ An. Cũng theo Toàn thư, tháng Tám năm 1308, khi đón Công chúa Huyền Trân từ thành Đồ Bàn trở về, Trần Khắc Chung đã bắt theo một số người Chiêm. Thượng hoàng Nhân Tông liền sai Trại chủ Hóa Châu cho thuyền đưa 300 người này trở lại Chiêm Thành. Vậy thì, trại ở đây không có nghĩa trại lính, trang trại, trạm trại mà là một cấp hành chính miền núi, tương đương phủ lộ sau này. Còn về huyện Tri Kiến, đơn vị cấp huyện được lập từ thời nhà Trần, nhà Hồ, khi quân Minh cướp nước ta xóa bỏ huyện Tri Kiến cho đất ấy lệ vào hai huyện Phúc Khang và Nha Nghi thuộc phủ Tân Bình. Đời Lê hai huyện này thuộc phủ Tiên Bình, đến đời Nguyễn là huyện Khang Lộc, sau là Phong Lộc và Lệ Thủy thuộc phủ Quảng Ninh. Theo Đất nước Việt Nam qua các đời, học giả Đào Duy Anh viết: “Sông Kiến Giang là dấu tích của huyện Tri Kiến xưa”. Như vậy, nói chính xác, huyện Tri Kiến xưa nằm ở vùng châu Địa Lý, trại Bố Chính, nơi ấy nay thuộc huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
Tri Kiến (知見) được hiểu theo thuật ngữ Chánh tri kiến của nhà Phật là “sự thanh tịnh về hiểu biết (giác ngộ) là cửa ngõ để tiến đến cái nhìn thấu suốt lớn lao hơn nữa và kể cả dẫn đến những mức độ cao hơn về hạnh phúc”.
Qua nghiên cứu Quốc sử và Phật giáo sử, cùng với tư liệu điền dã ở vùng Lệ Thủy, chúng tôi nhận thấy, am Tri Kiến là ngôi cổ tự buổi đầu được lập khá sớm của Phật giáo Đại Việt truyền vào miền trong, muộn hơn cũng từ mùa xuân năm Tân Sửu, 1301, khi Điều Ngự vào cư trú ở trại Bố Chính và vị trí của nó cũng có thể là nơi đóng chùa cổ Kính Thiên thời Hậu Lê. Do thời gian và chiến tranh tàn phá, chùa Kính Thiên bị hư hỏng nặng, đến khi Chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa đã sai dựng lại, đời vua Minh Mạng thứ 7 triều đình cho trùng tu và đổi chùa Kính Thiên làm chùa Hoằng Phúc - trở thành một trung tâm lớn của Phật giáo vùng này lúc bấy giờ. Dấu tích chùa Hoằng Phúc hiện còn lưu lại ở xã Mỹ Thủy, huyện Lệ thủy, tỉnh Quảng Bình, chỉ cách quốc lộ Bắc Nam chừng 3 cấy số, đoạn từ chợ Mai ngược lên phía núi Trường Sơn.
Về hành trạng của Điều Ngự khi vân du phía Nam, Toàn thư viết: “Tháng 2 năm Tân Sửu, 1301, Chiêm Thành sang cống. Tháng 3, Thượng hoàng vân du các nơi, sang Chiêm Thành”. “Mùa đông, tháng 11, Thượng hoàng từ Chiêm Thành trở về”. Toàn thư không nhắc gì tới việc Ngài trú tại huyện Tri Kiến hay am Tri Kiến. Phải chăng các nhà nho thời Lê, sau này chép lại sử thời Trần đã bỏ qua hoạt động Phật sự của ông vua đi tu tại vùng Bố Chính và Chiêm Thành lúc bấy giờ? Không những thế mà họ còn xuống bút phê gay gắt: “Một vị Thiên tử, mà làm thầy chùa ở Trúc Lâm, người có trí không ai làm thế”. Còn Tam Tổ thực lục thì lại không chép việc Ngài qua Chiêm Thành?
Phật giáo sử cho biết rằng, trong những năm tháng hoằng hóa, kể từ sau năm Kỷ Hợi, 1299, Trần Nhân Tông chính thức xuất gia lên núi Yên Tử tu thiền (để viết về Ngài, Toàn thư thường dùng danh xưng Thượng hoàng, còn các sách khác thì xưng Điều Ngự, Hương Vân Đầu Đà, hoặc Trúc Lâm Đại Sĩ. Theo tôi, có lẽ sau năm 1299 nên gọi theo danh hiệu Phật là Điều Ngự, Đại Sĩ hoặc Trúc Lâm Đầu Đà thì phù hợp với hoàn cảnh của vua Trần Nhân Tông bấy giờ hơn), Ngài chỉ vân du về phía Nam một lần duy nhất mà thôi, tức cuộc vân du vào đầu năm 1301. Chuyến đi này, lịch sử ghi nhận Trần Nhân Tông là vị Nguyên thủ quốc gia Đại Việt đầu tiên đi ra nước ngoài; và cũng có thể xem Ngài như là vị Tổ của ngành du lịch Việt Nam.
Phải chăng, Điều Ngự đã vân du về Nam trước khi sứ đoàn Chiêm qua Thăng Long. Tại trại Bố Chính, để có chỗ hoằng hóa, ngài đã lập am Tri Kiến để cư trú; Tam Tổ thực lục ghi chữ lập am Tri Kiến, các sách khác ghi là ở tại am Tri Kiến (xem như vậy thì am Tri Kiến đã có từ trước nữa chăng ?). Và tính đến khi Điều Ngự vào trại Bố Chính, đất này đã thuộc chủ quyền Đại Việt hơn hai thế kỷ kể từ năm 1069 dưới thời nhà Lý. Điều Ngự ở am Tri Kiến, nhân sứ Chiêm từ Thăng Long trở về ngang qua Bố Chính, Ngài và tùy tùng nhập đoàn cùng đi luôn qua Đồ Bàn. Trước khi vào tới Đồ Bàn, đoàn phải ghé qua Lý Thành, tức Hóa Thành (nay là vùng xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền), mà lúc bấy giờ vốn là một căn cứ quân sự, trung tâm văn hóa, chính trị lớn phía bắc của Chiêm Thành. Vì quãng đường vào Đồ Bàn còn xa (gần 400 cây số) nên có thể đoàn phải trú lại Hóa Thành ít hôm, cũng có thể Điều Ngự đã khất thực trong thành này, rồi mới lên đường vào Đồ Bàn. Và mấy năm sau, theo bước chân Điều Ngự, Huyền Trân Công Chúa vào làm dâu Chiêm, cũng đã dừng lại Hóa Thành, vọng về cố quốc trước khi vượt đèo Hải Vân. Xin nhắc lại rằng, kể từ sau khi xuất gia tu Phật, Điều Ngự luôn đi bộ và đã thề suốt đời không bao giờ đi xe ngựa.
Ở đây ta thấy sự chủ ý dấn thân của Điều Ngự khi đi về Nam, không phải và không bao giờ là sự kết hợp ngẫu nhiên “nhân có sứ đoàn Chiêm Thành qua cống mà Thượng hoàng đi chơi theo luôn”. Mọi việc sau này đã rõ, Điều Ngự đi xuống phía Nam với vai trò Thiền sư hơn là tư cách của một vị Thái Thượng hoàng. Bởi chỉ dưới vai trò Thiền sư, làm vị du tăng Ngài mới dễ dàng tiếp cận văn hóa, rộng đường khảo cứu Phật giáo ở Chiêm Thành, vừa để hoằng hóa đạo pháp, truyền bá dòng thiền Trúc Lâm, vừa tìm cách thống nhất các tông phái, vừa quan sát phên dậu Tổ quốc, và có thể ngài đã tính trước bằng tư duy tuệ nhãn của việc mở đất Ô, Lý bằng con đường hòa bình mà không bị người phương Bắc để ý, các nước lân bang khác bận tâm, nghi ngờ sau thắng lợi vang dội của quân dân Đại Việt chống Nguyên Mông.
Chuyến vân du từ Chiêm Thành trở về Thăng Long của Điều Ngự Toàn thư viết rằng: “Năm Tân Sửu, 1301, mùa đông, tháng 11, Thượng hoàng từ Chiêm Thành trở về”. Câu này được hiểu theo hai nghĩa: tháng 11, Thượng hoàng bắt đầu từ Chiêm Thành trở về Thăng Long; hoặc là tháng 11, Thượng hoàng từ Chiêm Thành trở về tới Thăng Long. Chúng ta đã biết, cuộc vân du của Ngài toàn là đi bộ (chắc chắn khi vào Nam có đoạn Ngài phải dùng thuyền hoặc kiệu cáng), thì xem ra từ tháng 3 đến tháng 11 năm Tân Sửu, Ngài có mặt ở Chiêm Thành, tại Đồ Bàn với khoảng thời gian ngắn mà thôi. Dù sao thì thời gian không quan trọng bằng việc Điều Ngự được vua Chế Mân và triều đình Chiêm Thành đón tiếp nồng hậu, kính trọng tuyệt đối. Cuộc đón tiếp đầy tình hữu nghị này như là một sự gặp gỡ hòa bình, tri ân đã có từ trước. Bởi trong chiến tranh chống Nguyên Mông xảy ra vào năm 1283, Trần Nhân Tông đã chi viện 2 vạn quân, 500 chiến thuyền, cùng nhiều lương thực cho Chiêm Thành, cùng sát cánh bên nhau để chống kẻ thù chung. Thêm nữa, vào năm 1285, khi bắt được mấy trăm lính người Chiêm theo viên tướng Toa Đô, vua Nhân Tông đã sai người đưa họ trở về lại Chiêm Thành.
Một việc nữa mà sau này chúng ta mới biết, Chế Mân là ông vua theo Bàlamôn nhưng lại rất mộ đạo Phật, bằng chứng là thời ông nhiều tháp mộ được kiến trúc theo lối Phật giáo, và mẹ của Chế Mân, tức Hoàng hậu Gaurendraksmi là người theo đạo Phật, khi mất được triều đình làm lễ tang theo nghi thức Phật giáo. Cho nên, khi Chế Mân gặp được ông vua anh hùng “thượng quốc” vừa đánh bại hai cuộc chiến tranh xâm lược của Nguyên Mông, lại là vị vua xuất gia tu khổ hạnh, một thiền sư bộ hành khắp nơi, một con người thông tuệ, khoáng đạt có thế lực tinh thần rất lớn trong triều đình cũng như ngoài dân chúng Đại Việt nhưng lại xem nhẹ quyền lực đến thế làm cho Chế Mân thực sự rung động, cảm phục.
Chúng ta không biết chính xác nội dung cuộc tiếp kiến (có thể là cuộc hội đàm) giữa Điều Ngự và vua Chế Mân, nhưng sau đó mấy năm, với nhiều chuyến qua lại của sứ thần hai nước, mà Toàn thư cho biết: Tháng 10 năm Quí Mão, 1303, lấy Đoàn Nhữ Hài làm Tham tri Chánh sự. Trước đây, vua sai Nhữ Hài đi sứ Chiêm Thành xin đến yết kiến Thượng hoàng ở chùa Sùng Nghiêm núi Chí Linh”. Đoạn này một số tài liệu khác viết: “Mùa xuân, năm Quí Mão, 1303, Đoàn Nhữ Hài được vua Anh Tông cử đi sứ sang Chiêm Thành”. Rồi “Tháng 2 năm Ất Tỵ, 1305, Chiêm Thành sai Chế Bồ Đài và bộ đảng hơn trăm người dâng biếu vàng bạc, hương liệu quí, vật lạ làm lễ cầu hôn (Công chúa Huyền Trân)”.
Sứ thần hai nước qua lại, kể từ sau chuyến vân du của Điều Ngự sang Chiêm, để rồi một cuộc tình sử diễn ra: “Mùa hạ, tháng 6 năm Bính Ngọ, 1306, gả Công chúa Huyền Trân cho chúa Chiêm Thành Chế Mân. Trước đây, Thượng hoàng vân du sang Chiêm Thành, đã hứa gả rồi”. Tuân lệnh Điều Ngự và vua Anh Tông, theo đoàn hộ giá, Huyền Trân Công chúa vào Chiêm Thành làm dâu. Ngay trước đó mấy tháng, ông con rể Chế Mân đã cắt đất hai châu Ô, Lý làm vất sính lễ dâng lên nhạc phụ Trần Nhân Tông. Kể từ đấy, hai châu Ô, Lý trở về sáp nhập vào bản đồ Đại Việt.
Như vậy, từ am Tri Kiến ở huyện Tri Kiến, trại Bố Chính (Quảng Bình), vào đầu năm Tân Sửu, 1301, nhờ thuận duyên, Điều Ngự đã dùng tâm đức nhẹ nhàng đưa con thuyền sinh mệnh văn hóa dân tộc vượt qua sông Thu Bồn trong chiến lược xây dựng tình hòa hiếu giữa hai dân tộc làm nền tảng cho hòa bình dài lâu. Châu Ô, châu Lý sau này là Thuận Hóa, mà Nguyễn Trãi gọi là phên dậu thứ tư theo Địa dư chí; một cuộc đất chiến lược để các triều đại kế tiếp tiến dần xuống Cà Mau.
Trong cuộc hoằng hóa về Nam của Điều Ngự, cây thiền trượng từ tay Trúc Lâm đã biến thành cây nêu Yên Tử cắm xuống mảnh đất Thuận Hóa, và chỉ vài trăm năm sau cội Bồ Đề đã nở hoa Ưu Bát, để rồi cuộc đất vốn là “Ô Châu ác địa” xưa kia, phát triển rực rỡ trở thành Kinh đô nhà nước quân chủ vừa là Kinh đô Phật giáo thứ hai sau Yên Tử - Bởi chính Yên Tử từng là Kinh đô Phật giáo thứ nhất của Đại Việt, nơi mà Điều Ngự đã khai mở ra dòng Thiền nhập thế Trúc Lâm mang đậm bản sắc văn hóa Đại Việt với chủ trương “Cư trần lạc đạo” truyền dần về Nam.
D.P.T
------------------------------------------
     Tài liệu tham khảo chính

1. Dương Văn An, Ô châu cận lục, bản A.263,Viện nghiên cứu Hán Nôm, Nxb KHXH, Hà Nội, 1997.
2. Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1994.
3. Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm, Cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, Nxb QĐND, Hà Nội, 2003                                                                                               
4. Lê Mạnh Thát, Trần Nhân Tông toàn tập, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 2000.
5. Lương Ninh, Văn hóa Chămpa, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2006.
6. Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký tòan thư, Nxb KHXH, Hà Nội, 1985.(viết tắt là Toàn thư)
7. Ngô Đức Thọ (chủ biên), Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075-1919, Nxb Văn học, Hà Nội, 1993.
8. Ngô Văn Doanh, Văn hóa cổ Chămpa, NxbVăn hóa dân tộc, 2002.
9. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận I, II, III, Nxb Văn học, Hà Nội, 2000.
10. Thích Phước Sơn (dịch và chú), Tam Tổ thực lục, Viện nghiên cứu Phật học VN, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1995.
11. Trần Bá Việt (chủ biên), Đền tháp Chămpa – Bí ẩn xây dựng, Nxb Xây dựng, Hà Nội, 2007.
12.Tư liệu điền dã của Dương Phước Thu…
 

 

                                                 
 

Dương Phước Thu
Xem tin theo ngày  
Thống kê truy cập
Truy cập tổng 309.187
Truy cập hiện tại 33