Tìm kiếm tin tức
Về đất khởi nghiệp nhà Trần
Ngày cập nhật 20/12/2017

Nhiều năm lần theo dấu xưa của nàng Huyền Trân, Công Chúa nhà Trần mở đất Thuận Hóa, hễ có dịp là tôi lại trở về xứ Bắc; trở về để được viếng đền thờ các vua anh hùng nhà Trần ở làng Tức Mặc, nơi ấy nay thuộc phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định.
Người Việt dẫu xa quê mấy đời vẫn giữ thói thường tận trong sâu thẳm, mỗi khi trở về cố hương, kính cẩn viếng thăm nơi thờ tự tổ tiên thì viếng luôn mồ mả của các vị anh hùng, liệt nữ, chỗ người xưa nằm. Tôi cũng vậy. Và trộm nghĩ rằng: “Bổn mộc thủy nguyên”, cây có gốc, nước có nguồn, có cổ mới có kim, có tiền nhân mới có hậu thế, việc ấy rất đáng phải làm lắm.

Đầu xuân năm Canh Dần 2010, tôi lại ra Tức Mặc. Mới hay, tổ tiên mấy đời xa trước của họ Trần đứng chân ở làng Thái Đường, tức hương Tinh Cương, thuộc lộ Long Hưng – nay là Tam Đường, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Một vòng lướt quanh làng đã thấy hiện lộ, đền miếu thờ tự, lăng vua mộ tướng ngày xưa vẫn còn.
Thì ra, sự tích lưu truyền bởi có căn nguyên, dấu tích hiển nhiên là chứng cứ, mà quốc sử cũng đã ghi rằng: Đất Tinh Cương nhà Trần khởi nghiệp.
Là dân quê xứ Huế, ở cuộc đất vốn chọn làm vật sính lễ dẫn cưới Công Chúa Huyền Trân của vua Chiêm, tôi đã về Tinh Cương nhiều lần. Mỗi lần về đây tôi thường lội ra cánh đồng thấp trũng trước làng Tam Đường, thắp hương viếng mộ ba vị vua anh hùng đầu triều Trần. Nhìn dãy mộ ba vị vua kiệt hiệt chống Nguyên Mông, trầm mặc xếp hàng như ba trái núi nhỏ nằm giữa cánh đồng, tôi thấy nao lòng. Ôi những anh hùng kiệt hiệt chống ngoại xâm đang yên nghỉ nơi đây! Phải chăng linh mạch khởi nghiệp từ đất Tinh Cương cũng chính là chốn cát địa dẫn lối quay về nơi yên giấc ngàn thu của các bậc đế vương nhà Trần? Phải mấy lần đứng trước án thờ vị vua mở nghiệp Trần Thái Tông ở Tam Đường, tôi mới được biết rằng: Họ Trần nước ta, viễn tổ xa xưa sống ở vùng Yên Sinh, thuộc tỉnh Quảng Ninh bây giờ. Mấy đời làm nhà trên sông nước, theo nghề chài lưới. Đến giữa cuối thế kỷ XI, đời vua Lý Nhân Tông, cụ Trần Kinh rời đất Yên Sinh, thả con thuyền trôi theo các dòng sông, về vùng Hải Thanh (sau đổi là Thiên Trường), nhập cư vào hương Tức Mặc, lấy vợ, sinh con đẻ cái.
Cụ Trần Kinh sinh được hai trai: Trần Hấp là anh, Trần Tự Duy là em. Nối nghề cha, anh em Trần Hấp vẫn lấy con thuyền làm nhà, theo đuôi con cá. Năm tháng côi qua, cụ Trần Kinh tuổi già mà mất, người ta rước cụ ra táng ở cồn đất thuộc hương Tức Mặc.
Trần Hấp lo xong tang lễ cho cha, chống thuyền ngược sông Hồng lên vùng Hải Ấp, quăng chài bủa lưới.
Vùng Hải Ấp - đất Thái Đường xưa mà người đời thường truyền tụng là chốn có nhiều mả sao. Bởi quanh vùng này nổi lên vô số gò đống, ở trên các gò ấy có những chòm cỏ xanh hình tròn, từ xa nhìn lại trông giống như hình những ngôi sao. Vì những gò đống ấy mà khi lập làng, người xưa đã lấy tên chữ là hương Tinh Cương (hương ở đây có nghĩa là làng; tinh là ngôi sao; cương là gò đất nổi). Trong quá trình bồi đắp, phù sa đã tạo nên cho Tinh Cương thế địa mà theo cách nhìn của nhà phong thủy: “Tiền có tam thai, hậu có thất tinh, nam có voi phục, bắc có phượng chầu”, là chốn linh khí phúc địa, sau này ắt sẽ phát giàu, phát tướng, phát vương.
Sông nước đẩy đưa con thuyền, anh em Trần Hấp đến đất Tinh Cương. Trần Tự Duy sống bên Lưu Gia, Trần Hấp sang Thái Đường, hai ấp chỉ cách nhau chừng nửa dặm, buông chài thả lưới.
Chuyện xưa kể rằng: Một buổi sớm mùa thu năm ấy, Trần Hấp chống thuyền qua bãi nổi, ông trông thấy một chiếc rọ tre mắc cạn, cùng lúc lại nghe tiếng người kêu cứu, ông vội cho thuyền đến ngay. Trong chiếc rọ ấy nhốt một người đàn ông khoảng ngũ tuần, bị trói co quắp, sắp chết vì lạnh. Bẩm tính nhân hậu, gặp cảnh thương tâm, Trần Hấp bàn với vợ tìm cách cứu người. Mặc dù kiếm ăn khó nhọc, nhưng Trần Hấp vẫn quyết dốc sạch cắc bạc cuối cùng tìm thầy cứu chữa. Sau mấy ngày thuốc thang cơm cháo, người gặp nạn phục hồi khí lực. Thấy gia cảnh Trần Hấp bần hàn, lênh đênh sông nước, nhưng lại giàu lòng từ bi, ông mới kể rằng: Ông là thầy địa lý (sử cũ chép là Khách nhân), từ phương Bắc sang Đại Việt tìm đất phong thủy. Đến vùng này thấy có một gò hỏa tinh nổi trên mặt nước, chung quanh có nhiều gò nhỏ quần tụ chầu vào gò lớn, ông nghĩ rằng: giữa vùng sông nước, gần với đất bằng mà có những gò đống nổi lên, hẳn không thể là nơi hung dữ. Quan sát kỹ, ông thấy linh khí từ gò hỏa tinh bốc lên ngùn ngụt.
Bấy giờ, ở thôn Tây Nha gần đấy có nhà giàu Nguyễn Cố, người từng thuê thầy địa tìm cát địa đặt mộ tổ. Nghe tiếng, Khách nhân tìm vào nhà Nguyễn Cố xin ở lại vài ngày. Biết ông là thầy thuật số, Nguyễn Cố muốn lấy lòng, mở tiệc thiết đãi tử tế. Nhân đấy Khách nhân bày cho Nguyễn Cố, hãy dời mộ tổ tiên đến táng ở gò Hỏa Tinh. Và quả quyết rằng, chỉ một thời gian ngắn nhất định gia tộc Nguyễn Cố sẽ phát (không làm vua thì cũng nhất phẩm triều đình); khi thành đạt, giàu sang Khách nhân mới tính chuyện tiền nong.
Nghe theo lời thầy địa lý, Nguyễn Cố bí mật dời mộ tổ tiên, âm thầm táng vào gò Hỏa Tinh. Xong việc, mở tiệc tiễn Khách nhân về nước…
Ba năm sau Khách nhân lại đến Long Hưng. Ông muốn xem gia tộc Nguyễn Cố có gì biến đổi, cốt là để kiểm chứng lời phán của mình có ứng nghiệm. Sự xuất hiện của thầy địa làm cho vợ chồng Nguyễn Cố lo sợ vỡ chuyện phong thủy ở gò Hỏa Tinh. Vợ chồng họ bàn nhau, tối ấy đãi thầy bữa rượu thịt no say, rồi tìm cách hại chết thầy.
Bữa cơm tri ân ấy thành ra bữa tiệc máu. Nguyễn Cố phục cho thầy địa say chí tử, rồi trói lại, nhốt vào cái rọ tre, đem thả trôi sông những mong dìm chết. Nhưng mệnh ông thầy này chưa dứt. Buổi ấy nước triều đang xuống cạn, rọ tre trôi dạt vào cồn cát. Gặp lúc Trần Hấp chống thuyền ngang qua nghe tiếng kêu nên đã ra tay cứu giúp.
Để trả ơn cứu mạng, thầy địa mới hiến cho Trần Hấp một kế, đưa mộ tổ tiên đến táng ở gò Hoa Tinh. Nếu quyết làm theo thì gia tộc Trần Hấp nhất định sẽ thành tựu, lưu danh muôn thuở. Đồng thời ông lại đến nhà Nguyễn Cố trong một buổi chiều u ám. Nguyễn Cố thấy ông xuất hiện, cứ tưởng hồn ma, sợ hãi sụp lạy xin tha mạng. Thầy địa nói với Nguyễn Cố, số tôi có trời phù hộ, không thể chết được. Mấy năm trước tôi khuyên ông táng mộ cha vào gò Hỏa Tinh, vội quá nên chưa bày hết thuật. Nay lại sang cốt chỉ bày tiếp để được ứng nghiệm. Nhưng ông đã phản phúc, phản thầy, giết người bịt miệng. Sự nghiệp tạo dựng chưa thành đã tiêu tan. Muốn bình yên thì ông phải sám hối, cầu nguyện thần linh long mạch hóa giải. Nếu ông thành tâm thì nghe ta nói đây: Mấy hôm nữa, hễ trời nổi giông tố, vào lúc mưa lặng gió dừng, ông ra mộ cha ở gò Hỏa Tinh mà thấy những đường nứt nẻ, máu chảy đỏ dòng thì phải dời ngay, để chậm họa chết cả nhà.
Thầy địa lại dặn Trần Hấp, khi mưa gió nổi lên, ông ra mộ cha Nguyễn Cố rạch mấy đường ngang dọc, rồi lấy máu chó đổ xuống. Nguyễn Cố ra xem, thấy vậy sẽ dời ngay. Sau quả đúng như thầy địa đã bày.
Theo thuật kế của thầy địa lý, Trần Hấp trở về hương Tức Mặc, lẳng lặng dời mộ cụ Trần Kinh đưa sang Long Hưng. Vào ngày Tân Dậu, tháng Đinh Tỵ, năm Quí Sửu, triều Lý Thần Tông, niên hiệu Thiên Chương Bảo Tự thứ nhất, 1133, Trần Hấp bí mật làm lễ táng di cốt cụ Trần Kinh vào gò Hỏa Tinh. Để tiện việc trông nom hương khói và đề phòng người nhà Nguyễn Cố nghi ngờ đào phá long mạch, Trần Hấp bèn dựng lều bên cạnh mộ cha vừa để ở, vừa canh chừng.
     Âm trạch táng cụ Trần Kinh được thầy địa lựa chọn tọa thế:
     “Phấn đại dương giao chiếu
     Liên hoa đối diện sinh
     Tha nhật nhân dĩ sắc
     Đắc thiên hạ do tình”.
     Nghĩa là:
     (Phấn son chiếu dọi vừng dương
     Hoa sen đối mặt nở bừng thắm tươi
     Mai này nhờ sắc của người
     Chiếm được thiên hạ không rời tình yêu).
Thế địa này ẩn ý rằng, sau này (họ Trần) ắt nhờ một người con gái có nhan sắc mà đoạt được thiên hạ.
Bỏ qua tất cả chuyện phong thủy đi tìm cát địa đặt mộ của họ Trần, chắt lọc tính uyên nguyên của sự tích, ta thấy được phần nào nguyên nhân bấy giờ mà cụ Trần Hấp dời nhà từ hương Tức Mặc đến định cư ở làng Thái Đường, thuộc lộ Long Hưng.
Năm tháng lưới chài thuộc mọi luồng lạch dòng sông, nhờ vận đến và biết sống tiện tặn thu xếp, gia cảnh Trần Hấp ngày một khá lên, trở nên giàu có, nổi tiếng trong vùng.
Cụ Trần Hấp đến ấp Thái Đường, sinh được hai người con: Trần Lý là anh, Trần Nghị là em. Cả hai đều là những chàng trai tuấn tú, chịu khó học hành. Bấy giờ gia đình cụ Trần Hấp tạo lập ruộng vườn vô số, kẻ ở người làm đông đến vài trăm. Nhờ phúc ấm, anh em Trần Lý bỏ hẳn nghề chài lưới, sống với điền trang, tuyển mộ người dưới, mở mang việc học cả văn lẫn võ. Gia tộc họ Trần ở Tinh Cương dần dần có địa vi, trở thành tầng lớp trên của xã hội bấy giờ.
Người con cả của cụ Trần Hấp là Trần Lý, đến tuổi trưởng thành Trần Lý lấy Tô Thị Hiền, con gái của Tô Tân, một hoa khôi nhất làng Lưu Gia, sinh được bốn người con: Trần Thừa, Trần Tự Khánh, Trần Thị Dung, Trần Thị Tam Nương.
Tô Thị Hiền có người em ruột là Tô Trung Từ, giữ chức Thái úy Phụ chính, tước Thuận Lưu bá, dưới triều Lý Huệ Tông.
Người em là Trần Nghị lấy vợ họ Phùng, cùng thôn Lưu Gia, sinh ba người con: Trần An Quốc, Trần An Hạ, Trần Thủ Độ.
Trần Thừa là huynh trưởng, phái đại tông, sớm phải gánh vác chức trách kế nghiệp nhà, kịp khi vừa lớn, ông lập chính thất với người họ Lê, con gái của Lê Điện, làm quan Thái phó triều Lý. Trần Thừa và Lê Thị sinh được ba trai: Trần Liễu, Trần Cảnh, Trần Nhật Hiệu, hai ái nữ là Thụy Bà và Thiên Thành…
Vào những năm đầu thế kỷ XIII, vận hạn triều Lý bắt đầu mục rỗng, vua tôi bất tín, dân chúng lầm than, nạn cướp bóc mọc lên như nấm. Trong triều gian thần lộng quyền, vua thì ham mê tửu sắc, chính sự tan nát. Dẫn đến tháng 7 năm Kỷ Tỵ, 1209, nổ ra loạn Quách Bốc đem quân đánh thốc vào kinh thành Thăng Long. Vua Cao Tông đang đêm phải rời cung chạy lên vùng núi Qui Hóa, Hoàng Thái hậu Đàm Thị và Thái tử Sảm dạt về miền biển Long Hưng tránh họa. Bấy giờ được sự hộ giá của tướng quân Đỗ Quảng, Thái tử Sảm đến thôn Lưu Gia, trú ở nhà Lê Mỵ. Một hôm, Thái tử bơi thuyền dạo chơi ngang ấp Thái Đường, nghe tiếng Trần Thị Dung con gái nhà giàu Trần Lý, sắc đẹp tài hoa hơn người, sai bầy tôi thân tín vời Thị Dung đến hành cung, mới thấy mặt người đẹp Thái tử Sảm liền thích ngay, bèn quyết lấy làm vợ. Nhân đấy trao cho nhạc phụ Trần Lý tước Minh Tự, cho cậu của vợ là Tô Trung Từ làm Điện tiền chỉ huy sứ. Sau buổi ấy, anh em họ Trần, họ Tô liền họp hương binh Tinh Cương dẹp loạn Quách Bốc, dựng cờ phò nhà Lý, rước Thái tử trở về Thăng Long, khôi phục chính thống.
     Tháng 10 năm Canh Ngọ, 1210, vua Cao Tông bệnh hoạn không chữa khỏi mà băng. Thái tử Sảm lên ngôi trước linh cửu, tức Lý Huệ Tông, bấy giờ vua mới 16 tuổi. Trước tình thế vua mới nối ngôi, triều đình năm phe bảy phái, rối loạn khắp nước. Trần Lý quyết dốc toàn lực phò vua, dẫn binh dẹp loạn, nhưng chẳng may ông bị giặc giết, vua thương tiếc vô cùng. Sự nghiệp dở dang của tướng quân Trần Lý đành phó mặc cho người con trai thứ là Trần Tự Khánh gánh vác.
     Lại nói về vua Lý Huệ Tông, từ ông hoàng sa cơ chạy loạn, may nhờ anh em họ Trần, họ Tô phò tá mà lên nối ngôi vua. Sau khi yên vị, được mấy tháng liền sai bầy tôi là Phạm Bố về Thái Đường đón người đẹp Trần Thị Dung vào cung, lập làm Nguyên phi; lại cho Tô Trung Từ làm Thái úy Phụ chính, anh của phi là Trần Tự Khánh làm Chương Tín hầu.
     Trải mấy năm xông pha dưới đao tên, đánh đông dẹp bắc, trung hưng triều Lý, công đầu thuộc về anh em họ Trần, có sự giúp sức của anh em họ Tô. Tháng 12 năm Bính Tý, 1216, Lý Huệ Tông phong Trần Thị Dung làm Hoàng hậu, Chương Tín hầu Trần Tự Khánh làm Thái úy Phụ chính, anh cả của Hoàng hậu là Trần Thừa làm Nội thị Phán thủ.
     Hoàng hậu Trần Thị Dung sinh được hai công chúa: Thuận Thiên và Chiêu Thánh. Thuận Thiên sau là Lý Thuận Thánh, lấy Trần Liễu; Chiêu Thánh sau là Lý Chiêu Hoàng, lấy Trần Cảnh. Cả hai nàng đều nổi tiếng xinh đẹp nhất kinh thành. Vậy là hai chị em công chúa con vua Lý Huệ Tông, lấy hai anh em ruột con của đại điền chủ Trần Thừa. Lúc ấy ở Thăng Long bắt đầu có chuyện anh em cô cậu ruột mà lại lấy nhau…
     Nước nhà đương buổi loạn ly, nghiêng ngửa. Vua Lý Huệ Tông mới ngoài hai mươi, thể lực suy nhược, mắc bệnh trúng phong đã mấy năm, ngự y chữa thuốc không khỏi, lại chưa có thái tử nối ngôi. Rồi bệnh vua nặng dần, có lúc vua nói như thiên tướng nhập vào, tay cầm giáo và mộc, cắm cờ nhỏ vào tai, phát điên nhảy múa cả ngày, chính sự không thể màng đến được, mọi việc giao hết cho Thái úy Trần Tự Khánh quyết định. Thế là quyền lớn của nhà Lý chuyển dần về tay họ Trần.
     Nhưng cũng như cha mình là Trần Lý, sự nghiệp cơ đồ còn dở dang thì tháng 12 năm Quí Mùi, 1223, Trần Tự Khánh chẳng may chết sớm, hưởng dương mới 40 tuổi, đưa thi hài về chôn ở Thiên Trường, sau được truy phong Kiến Quốc đại vương. Tự Khánh vừa mất, vua Lý Huệ Tông liền phong Trần Thừa làm Phụ quốc Thái úy, khi vào chầu miễn cần xưng tên.
     Qua năm Giáp Thân, 1224, bệnh vua Huệ Tông càng nặng, không có con trai nối nghiệp lớn tiên tổ, đành ủy nhiệm cho Trần Thủ Độ, lúc này đang giữ chức quan trong nội, làm Chỉ huy sứ, lãnh các quân Điện tiền mà hộ vệ cấm binh. Quyền bính nhà Lý chuyển dần về tay Trần Thủ Độ từ cơ hội này.
     Mùa đông tháng 10 năm ấy, cực chẳng đã vua phải xuống chiếu lập Công chúa Chiêu Thánh làm Hoàng Thái tử để truyền ngôi. Thế rồi Lý Huệ Tông xuất gia ra ở chùa Chân Giáo trong đại nội làm Thái Thượng hoàng. Chiêu Thánh lên ngôi, tôn hiệu là Chiêu Hoàng. Liền đấy, Chiêu Hoàng ban lệnh chọn con em của các quan viên trong ngoài sung vào các sắc dịch trong nội.
     Theo chính sử thì buổi ấy, Trần Thủ Độ nắm quyền nội ngoại, là người quyết đoán, dám làm chuyện lớn; cháu gọi Thủ Độ bằng chú là Trần Cảnh, con thứ của Trần Thừa, mới vừa 8 tuổi, được chọn vào làm Chánh thủ, trực hầu bên ngoài cung vua. Một hôm đến phiên giữ việc bưng nước rửa, nhân thế mà vào hầu bên trong. Lý Chiêu Hoàng trông thấy yêu lắm, vẫy đến chuyện trò. Mỗi khi vua chơi đêm, hay cho gọi Trần Cảnh đến cùng chơi; thấy Cảnh chỗ tối thì chạy đến trêu chọc, hoặc nắm lấy tóc, hoặc đứng vào bóng. Có một hôm Trần Cảnh bưng chậu nước đứng hầu, Chiêu Hoàng rửa mặt, lấy tay té nước ướt cả mặt rồi trêu cười, đến khi Trần Cảnh bưng khăn trầu thì vua lấy khăn ném cho Cảnh. Cảnh không dám nói gì, về mách ngầm với Thủ Độ, Thủ Độ nói: “Nếu thực có thế thì họ ta làm vua chăng? Chết cả họ chăng?”. Lại một hôm, Chiêu Hoàng lấy khăn trầu ném cho Trần Cảnh, Cảnh sụp xuống lạy nói: “Bệ hạ có tha tội cho thần không? Thần xin vâng mệnh”. Chiêu Hoàng cười và nói: “Tha tội cho ngươi. Nay ngươi đã biết nói khôn rồi đó”. Cảnh lạy, lui về báo cho Thủ Độ biết. Thủ Độ sợ việc tiết lộ ra thì bị giết cả họ. Bấy giờ Thủ Độ mới tự đem gia thuộc thân thích vào trong cung cấm, sai đóng cửa thành và các cửa cung, cắt người coi giữ. Các quan chực chầu không được vào. Thủ Độ loan báo rằng: “Bệ hạ đã có chồng rồi”. Các quan đồng lòng đều nói là được, xin chọn ngày 21 tháng ấy, vào chầu lạy mừng. Sắp đặt xong mọi việc chưa từng có trước đó, Trần Thủ Độ mới tâu vua nên tuyên chỉ. Lý Chiêu Hoàng liền xuống chiếu rằng: “Từ xưa nước Việt ta, đã có đế vương trị thiên hạ. Nghĩ triều Lý ta vâng chịu mệnh trời, gồm có bốn biển, các Tiên thánh truyền nối hơn hai trăm năm, chỉ vì Thượng hoàng có bệnh, không người nối dõi, thế nước gian nguy, sai trẫm nhận minh chiếu, cố gượng lên ngôi, từ xưa đến giờ, chưa từng có việc ấy. Khốn nỗi, trẫm là nữ chúa, tài đức đều thiếu, không có người giúp đỡ, giặc cướp nổi lên như ong, giữ thế nào nổi ngôi báu nặng nề? Trẫm dậy sớm thức khuya, chỉ sợ không cáng đáng nổi, vẫn nghĩ tìm người hiền lương quân tử cùng giúp chính trị, đêm ngày khẩn khoản, đến thế là cùng cực rồi. Nay trẫm suy đi tính lại một mình, duy có Trần Cảnh là người văn chất vẹn tuyền, thực là thể cách hiền nhân quân tử, uy nghi chễm chệ, có tư chất thánh thần văn võ, dù đến Hán Cao Tổ, Đường Thái Tông cũng không hơn được, sớm tối nghĩ kỹ, xét nghiệm từ lâu, nên nhường ngôi báu, để thuận lòng trời... Mong rằng bách tính đồng lòng, các bầy tôi hết sức cùng giúp việc nước, để hưởng phúc thái bình. Vậy bố cáo thiên hạ, để mọi người biết”.
     Ngày 11 tháng 12, năm 1225, Chiêu Hoàng thiết triều ở điện Thiên An, ngự trên bảo sàng, các quan vào chầu lạy ở dưới sân. Chiêu Hoàng trút bỏ ngự y, khuyên mời phu quân Trần Cảnh lên ngôi hoàng đế. Vua mới lên ngôi đổi niên hiệu làm Kiến Trung, đại xá thiên hạ, xưng là Thiên Hoàng. Phong cho Trần Thủ Độ làm Quốc Thượng phụ, coi sóc việc thiên hạ. Thủ Độ nói: “Hiện nay giặc cướp đều nổi, họa loạn mỗi ngày càng thêm. Nhà Lý suy yếu, thế nước nghiêng đổ nguy ngập, nữ chúa Chiêu Hoàng không gánh vác nổi, mới ủy thác cho Nhị lang (Trần Cảnh). Nhị lang lại là người chưa am hiểu việc nước, chính sự nhiều chỗ thiếu sót, vận nước mới mở, lòng dân chưa phục, mối họa không phải là nhỏ. Ta tuy là chú, không biết chữ nghĩa gì, còn phải bôn đông tẩu tây để chống với bọn giặc cướp, không gì bằng mời Thánh phụ tạm coi việc nước làm Thượng hoàng, một hai năm sau, thiên hạ nhất thống, giao trả lại quyền cho Nhị lang”.
     Lời bàn ấy của Trần Thủ Độ, các quan đều cho là phải. Liền sai sửa soạn thuyền xe về phủ Tinh Cương đón Thánh phụ Trần Thừa vào nhiếp chính.
     Như vậy, cho đến lúc Trần Cảnh lên ngôi Hoàng đế ở thành Thăng Long, Thánh phụ Trần Thừa vẫn bám trụ tại đất Tinh Cương.
     Tục truyền rằng vua Lý Thái Tổ khi mới được thiên hạ, xá giá về Cổ Pháp, ngự chơi chùa làng Phù Đổng, có thần nhân đề thơ ở cột chùa rằng: “Nhất bát công đức thủy/ Tùy duyên hóa thế gian/ Quang quang trùng chiếu chúc/ Một ảnh nhật đăng san”. Nghĩa là: Một bát nước công đức của Phật, theo cơ duyên sinh thành thế gian. Vằng vặc hai lần đuốc so sáng; mặt trời gác núi là hết bóng. Sư Vạn Hạnh đương trụ trì chùa ấy liền đem bài thơ dâng lên vua, Lý Thái Tổ xem xong rồi nói: “Việc của thần nhân thị không thể hiểu được”. Người đời truyền tụng, không ai biết thơ ấy nói ẩn ý thế nào. Đến khi họ Lý mất mới cho bài thơ ấy là nghiệm. Vì từ Lý Huệ Tông trở lên đến Lý Thái Tổ là tám đời, mà Huệ Tông húy là Sảm (chữ sảm, chiết tự, nghĩa là mặt trời gác núi). Thế là sau 216 năm trị vì đất nước, nhà Lý mất ngôi, mở đầu sự nghiệp hưng vận oai hùng của nhà Trần.
Đến đây mới thấy rằng, âm trạch ở gò Hỏa Tinh táng mộ cụ Trần Kinh có thế “Phấn đại dương giao chiếu/ Liên hoa đối diện sinh…”, mới chỉ gần một thế kỷ mà họ Trần đã làm chủ cả thiên hạ. Xem ra lời sấm của Khách nhân năm xưa thực có ứng nghiệm.
     Trần Cảnh nhận vương vị từ Lý Chiêu Hoàng, lên ngôi vua. Hơn mười năm sau, Hoàng hậu Chiêu Thánh vẫn chưa có con nối nghiệp; trong thế buộc phải làm, từ ngôi hoàng hậu, bà bị phế xuống làm thân phận công chúa, rồi ở vậy đến hơn hai mươi năm sau vua mới thưởng gả bà cho công thần Lê Phụ Trần, dòng dõi nhà Tiền Lê. Thực hiện theo khổ kế của Trần Thủ Độ, Trần Cảnh bị ép lấy Thuận Thánh, vợ của Trần Liễu lúc này đã có thai ba tháng, sắc phong làm Hoàng hậu. Mấy tháng sau, Thuận Thánh sinh ra Trần Quốc Khang (Quốc Khang lớn lên được nhận đất phong ở trại Diễn Châu, Nghệ An, làm chủ một vùng rộng lớn). Ba năm sau Hoàng hậu Thuận Thánh lại sinh ra Trần Hoảng, người kế thừa nghiệp lớn về sau, tức vua Trần Thánh Tông.
     Tháng 2 năm Mậu Ngọ, 1258, Trần Hoảng lấy con gái thứ năm của Trần Liễu; sau Trần Hoảng lên ngôi, bà được phong làm Hoàng hậu, hiệu là Nguyên Thánh Thiên Cảm, sinh ra Trần Khâm, tức vua Nhân Tông.
     Tháng 12 năm Giáp Tuất, 1274, Trần Khâm lấy trưởng nữ Quyên Thanh của Trần Quốc Tuấn, sau được phong lên ngôi Hoàng hậu, hiệu là Khâm Từ, sinh ra Trần Thuyên, tức vua Anh Tông… Kế tục nghiệp lớn, họ Trần làm vua nước Đại Việt được 12 đời (về sau kể thêm 2 vua Hậu Trần dấy binh khởi nghĩa chống nhà Minh đầu thế kỷ XV là 14 đời vua) tổng cộng 175 năm có lẻ.
     Trở lại nơi táng mộ tổ của họ Trần ở gò Hỏa Tinh. Năm 1133, Trần Hấp dời mộ cụ Trần Kinh từ hương Tức Mặc, Nam Định sang Long Hưng, Thái Bình. Khi Trần Hấp mất cũng được chôn ở nơi ấy. Năm 1210, Trần Lý dẫn quân dẹp loạn, bị giặc giết đưa về táng ở gò Tinh Cương. Ngày 18 tháng Giêng năm Giáp Ngọ, 1234, Thượng hoàng Trần Thừa băng ở cung Phụ Thiên, thọ 51 tuổi, đưa về táng ở Thọ Lăng.
     Thượng hoàng Thái Tông Trần Cảnh băng ngày 1 tháng 4 năm Đinh Sửu, 1277 ở cung Vạn Thọ, tháng 10 năm ấy rước về táng ở Chiêu Lăng.
     Ngày 25 tháng 5 năm Canh Dần, 1290, Thượng hoàng Thánh Tông Trần Hoảng băng ở cung Nhân Thọ, đến ngày 15 tháng 12 đưa về táng ở Dụ Lăng.
     Ngày 1 tháng 11 năm Mậu Thân, 1308, Trúc Lâm Điều Ngự Trần Nhân Tông băng ở am Ngọa Vân trên núi Yên Tử; hỏa táng xong, chia xá lỵ để nhiều nơi. Đến ngày 16 tháng 9 năm Canh Tuất, 1310, rước linh cửu về táng ở Đức Lăng. Lại đem Khâm Từ Bảo thánh Thái hoàng Thái hậu (mẹ của Huyền Trân Công Chúa, mất từ tháng 9 năm 1293, trước quàn tạm ở cung Long Hưng) hợp táng ở Đức Lăng. Đến khi Tuyên Từ Thái hậu mất (Tuyên Từ là dì ruột đồng thời là kế mẫu của Huyền Trân Công Chúa) ngày 19 tháng 8 năm Mậu Ngọ, 1318, vua Anh Tông theo di mệnh của Thượng hoàng Nhân Tông, phụ táng dì Tuyên Từ bên cạnh Đức Lăng.
     Như vậy, Thọ Lăng của Trần Thừa, Chiêu Lăng của Trần Cảnh, Dụ Lăng của Trần Hoảng, Đức Lăng của Trần Khâm đều táng ở phủ Long Hưng, nơi âm trạch Hỏa Tinh khởi nên nghiệp nhà Trần.
     Đến mấy đời sau, khi các đế vương nhà Trần mất đều đưa về táng ở xứ Yên Sinh, cố thổ xa xưa của họ Trần. Ví như ngày 16 tháng 3 năm Canh Thân, 1320, Thượng hoàng Anh Tông Trần Thuyên băng ở cung Trùng Quang, phủ Thiên Trường. Đến ngày 12 tháng 12 cùng năm, rước linh cửu về Yên Sinh, táng ở Thái Lăng. Rồi Mục Lăng của vua Minh Tông, Ngải Lăng của vua Hiến Tông, Phụ Lăng của vua Dụ Tông, Đồng Hi Lăng của vua Nghệ Tông và Thuận Tông (Thuận Tông tự thân làm tướng đi đánh Chiêm Thành bị chết ở trận, làm mộ giả táng ở Hi Lăng) đều nằm ở Yên Sinh…
     Còn nhớ, mùa thu, năm Nhâm Tý, 1312, chiến thắng Chiêm Thành trở về. Vua Anh Tông đến trước lăng miếu ở phủ Long Hưng, làm lễ truy tôn công đức các vị Tổ của mình: Ý Vương Trần Kinh làm Mục Tổ Hoàng Đế; Cung Vương Trần Hấp làm Ninh Tổ Hoàng Đế; Chiêu Vương Trần Lý làm Nguyên Tổ Hoàng Đế. Còn Trần Thừa thì trước đó đã tôn làm Thái Tổ Hoàng Đế rồi…
     Tôi về đất Tinh Cương – Thái Đường xưa, nay là Tam Đường. Gọi tên làng như thế vì Tam Đường có ba thôn: Phúc Đường, Thái Đường và Ngọc Đường thuộc xã tiến Đức, huyện Hưng Hà. Sừng sửng ngôi Đền Cả được Nhà nước tôn dựng lại trên nền cũ đã mấy năm, để thờ tiên tổ và các vị Hoàng đế nhà Trần. Phía cánh đồng trước ngôi Đền Cả là khu lăng mộ ba vua Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông như ba trái núi nhỏ xanh um cỏ cây. Phía sau ngôi đền một quãng là nơi yên nghỉ của bốn vị Hoàng thượng mà theo cách gọi của dân địa phương là nơi: Mục Tổ, Ninh Tổ, Nguyên Tổ và Thái Tổ yên giấc ngàn thu.
     Cạnh Tam Đường là thôn Lưu Gia, khi từ hương Tức Mặc sang, Trần Tự Duy đã đến đây sinh sống. Và chính tại cái thôn nhỏ này, tháng 7 năm 1209, Thái tử Sảm dạt về ẩn náu khi chạy loạn Quách Bốc, rồi lấy con gái Trần Lý. Sự nghiệp họ Trần bắt đầu khởi lên từ cái ấp nhỏ này. Lưu Gia sau là đất phong của Linh Từ Quốc mẫu Trần Thị Dung, nên còn gọi theo tên nôm của bà là làng Ngừ. Thôn Lưu Gia nay là Lưu Xá, thuộc xã Liên Hiệp, hiện khu lăng mộ bà Trần Thị Dung và Thái sư Trần Thủ Độ vẫn còn, đã được trùng tu khang trang, bề thế…
     Để hiểu thêm về cuộc đất Tinh Cương, tôi đọc lại cuốn Lịch sử nước ta của Nhà văn hóa Hồ Chí Minh, thấy Người đã tổng kết một cách khách quan và khúc chiết về triều đại này rằng: “Đời Trần văn giỏi võ nhiều/ Ngoài dân thịnh vượng trong triều hiền minh…”. Thì ra vương nghiệp nhà Trần năm xưa, với những con người kiệt hiệt giữ nước và mở nước, lưu danh ngàn đời trong chính sử và cả trong tâm thức thần dân Đại Việt đã được khởi lên từ những dòng sông bến nước quê nhà, từ những thôn ấp bé nhỏ thơm mùi cỏ cây rơm rạ của vùng đất phù sa Tinh Cương, Thái Bình ngày nay.

                                                                                 Huế, 3. 2011
                                                                             


 

Dương Phước Thu
Các tin khác
Xem tin theo ngày  
Thống kê truy cập
Truy cập tổng 46.298
Truy cập hiện tại 1